Bài viết mới đây
Hiển thị các bài đăng có nhãn vi sinh xử lý nước thải. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vi sinh xử lý nước thải. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015

Rác thải sinh hoạt thành phân compost

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015 - 0 Comments

Giải khuyến khích tại Hội thi Sáng tạo kỹ thuật lần thứ VI của tỉnh Khánh Hòa đã trao cho ông Trần Văn Lía (Ninh Phụng, Ninh Hòa) với sáng tạo sản xuất phân compost  từ rác .





Đất sản xuất nông nghiệp ngày càng cằn cỗi, bạc màu do canh tác quá mức; đồng thời, một lượng lớn rác sinh hoạt bị đốt bỏ hoang phí, gây ô nhiễm môi trường, ông Lía đã nghĩ tới chuyện sản xuất phân bón từ rác.

Trước hết, ông tạo thói quen cho các hộ gia đình phân loại rác tại nguồn. Những loại rác vô cơ như: kim loại, thủy tinh, gốm sứ... khó phân hủy được thì phân riêng để vận chuyển về bãi rác; rác như: cây cỏ, lá được gom riêng để ủ làm phân bón. Hộ nào đất chật, diện tích cây trồng ít nên ủ phân trong thùng nhựa 200 lít, không cần dùng hóa chất, thời gian ủ 90 - 120 ngày là có phân sử dụng. Hộ có diện tích đất rộng, cần lượng phân lớn bón cho cây trồng thì sử dụng bạt ủ thành đống lớn. Bổ sung vôi vào rác thực vật, sau 15 ngày rác bắt đầu phân hủy thì đem ra cho giảm sức nóng và trộn đều với men vi sinh Trichoderma rồi ủ tiếp, chờ 45 - 50 ngày phân tự hoại là có thể dùng được. Cách sản xuất phân bón từ rác đơn giản, dễ làm, hiệu quả cao, khắc phục tình trạng “bón phân chay” (lạm dụng phân vô cơ, ít sử dụng phân hữu cơ làm cho đất ngày càng thoái hóa, bạc màu...) của nông dân.

>>>Xêm thêm: giá vi sinh xử lý nước thải

Ông Lía cho biết, trước đây ông thường canh tác ớt và cà tím, sau vài vụ là thất bại do cách bón phân không hợp lý, sâu bệnh hại phát sinh làm cây èo uột, thiếu sức sống. Từ ngày ủ phân vi sinh từ rác, bón cho cây phát triển tốt, ít sâu bệnh, sức đề kháng cao...

Theo ông Trần Ngọc Thơ - Phó Chủ tịch UBND xã Ninh Phụng, giải pháp của ông Lía được xã triển khai thí điểm tại 30 hộ nông dân thôn Phú Bình (Hội Nông dân tỉnh hỗ trợ 30 thùng đựng) từ tháng 7, cuối tháng 11 sẽ tiến hành tổng kết chương trình. Phương pháp này góp phần hạn chế tình trạng sử dụng quá mức phân hóa học của nông dân, tạo thói quen cho người dân biết cách phân loại rác, giải quyết lượng rác quá lớn ở nông thôn gây sức ép lên các bãi rác...

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2015

Thủy sản bị vi sinh xâm nhập: Vẫn an toàn nếu trong mức cho phép

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2015 - 0 Comments


VSVcó ở khắp mọi nơi nên chuyện xâm nhập vào các thực phẩm thủy sản không phải là chuyện gì quá xa lạ. Và nếu ở mức giới hạn trong khả năng thì sẽ không nguy hại bởi khi chế biến chỉ cần chế biến chín lên là có thể sử dụng được.




>> Xem thêm các bài viết liên quan ở đây: mua vi sinh xử lý nước thải .


Theo thông tin bộ NN-PTNT cho biết chỉ trong thời gian 9 tháng đầu năm số lượng các lô hàng vi phạm lần lượt là 165 và 78 lô tại một cuộc họp báo mới đây do bộ NN-PTNT tổ chức. Đối với hàng xuất khẩu, theo cảnh báo của các thị trường, 9 tháng đầu năm đã có 181 lô hàng bị cảnh báo về chỉ tiêu kháng sinh cấm sử dụng, kháng sinh hạn chế sử dụng, vi sinh và các cảnh báo khác.

Tuy nhiên, trước băn khoăn của phóng viên về một số mặt hàng bị trả về do không đáp ứng yêu cầu chất lượng của nước ngoài lại được đem về tiêu thụ trong nước, Cục trưởng cục quản lý chất lượng Nông Lâm Thủy Sản ông Nguyễn Như Tiệp hàng trả về vẫn có thể sử dụng được không có vấn đề gì về an toàn thực phẩm.

Theo như ông Tiệp nói thì các mặt hàng thủy hải sản nếu bị trả về về vấn đề vi sinh thì chỉ cần luộc lên là có thể ăn được.

Dư luận đang rất hoang mang khi nghe câu nói tôm luộc lên có thể ăn được . Người dân cứ nghĩ cục trưởng nói như vậy là để trấn an tinh thần người dân hoặc cho là cục trưởng thật biết cách nói đùa.

Trao đổi với PV xung quanh vấn đề này, PSG-TS Nguyễn Duy Thịnh (Viện sinh học-Công nghệ thực phẩm - Đại học Bách Khoa Hà Nội), cho biết, vi sinh vật là loại cực kỳ bé nhỏ mà mắt thường của con người không thể nhìn thấy được. Nó tồn tại ở dạng vi khuẩn, nấm mốc, nấm men.

vi sinh vật tồn tại ở rất nhiều nơi trong môi trường sống của chúng ta như: trong không khí, bụi, trên cơ thể con người, thậm chí trong miệng của mỗi người có lượng VSV lớn bằng cả dân số của thế giới. VSV theo nhiều người suy nghĩ là đều có hại, tuy nhiên chính xác thì VSV được chia làm 2 loại : có lợi và có hại.

Đối với loại VSV có lợi mà chúng ta thường thấy là nấm men. Nấm men vẫn thường được người dân dùng để làm tương. VSV có hại thì rất nhiều như vi khuẩn, nấm mốc… những loại này nếu xâm nhập được vào thức ăn sẽ gây ra những độc tố và gây nguy hại tới con người.

Ông Thịnh cũng khẳng định, hầu hết các loại thực phẩm đều bị VSV tấn công. Song, ở mức độ giới hạn cho phép thì bằng mắt thường con người không thể phát hiện được. Còn nếu vượt quá mức cho phép thì con người có thể dễ dàng nhận biết bằng thị giác và khướu giác. Ví như: Thịt lợn ôi, cá ươn, gạo, cà phê… có mùi nấm mốc. Nhìn hoặc ngửi qua là có thể biết được những thực phẩm này đã bị hư hại do VSV có hại tấn công. Theo đó, những loại thực phẩm này không nên ăn bởi chúng có rất nhiều độc tố không tốt cho sức khỏe con người.

Còn về vấn đề một số mặt hàng thủy sản như tôm bị trả về do vấn đề chỉ tiêu vi sinh thì chỉ cần luộc lên là có thể ăn được, ông Nguyễn Duy Thịnh cho rằng điều này hoàn toàn đúng nếu chỉ tiêu vi sinh ở mức giới hạn cho phép.

Theo ông Thịnh, đa phần các loại thực phẩm đều bị vi sinh vật tấn công. Song, ở mức nhiều hay ít thì khác nhau. Nếu ít mà phải những loại không nguy hiểm thì khi nấu chín chúng sẽ không có hại và ngược lại, nếu mà những loại VSV có hại, khi nấu chín, vi sinh vật trong thực phẩm sẽ chết nhưng độc tố thì vẫn còn

Thứ Ba, 17 tháng 11, 2015

Thay đổi diện mạo nông thôn miền núi nhờ khoa học công nghệ

Thứ Ba, 17 tháng 11, 2015 - 0 Comments


Nền kinh tế ở những vùng nông thôn nghèo tại TP. Đà Nẵng đã có diện mạo mới từ các chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội nông thôn miền núi (NTMN)



Thay đổi nhận thức người dân


Phó Trưởng phòng Phòng NN&PTNT huyện Hoà Vang – ông Lê Ngọc Sơn đưa chúng tôi đến thăm gia đình anh Phạm Dũng (thôn Cẩm Toại Tây, xã Hoà Phong), nhờ 2 dự án chăn nuôi giống chất lượng cao mà gia đình anh đã “đổi đời” .

Từ năm 2011, gia đình anh Dũng triển khai dự án chăn nuôi dê kết hợp trồng cỏ và nuôi thỏ trắng New Zealand. Lúc đó, anh Dũng được huyện hỗ trợ 8 con dê, 50 con thỏ giống, đồng thời được cung cấp thức ăn và giống cỏ ban đầu. Sau một năm thử nghiệm, đến năm thứ hai đàn dê và thỏ của gia đình anh Dũng bắt đầu cho thu nhập.

Anh Dũng chia sẻ: “Thịt dê và thỏ New Zealand được thị trường rất chuộng. Dê thì 8 tháng xuất bán một lần, mỗi con bán được từ 3-4 triệu đồng. Thỏ thì mỗi năm cho 2-3 lứa, mỗi lứa khoảng 30 con. Từ đầu năm đến nay gia đình tôi thu được gần 40 triệu đồng từ nuôi dê và gần 20 triệu đồng từ nuôi thỏ”.

Ông Sơn giải thích thêm: Chăn nuôi dê kết hợp trồng cỏ và nuôi thỏ trắng New Zealand là 2 dự án khoa học công nghệ (KHCN) cấp Nhà nước, có kinh phí Trung ương hỗ trợ, được triển khai tại Đà Nẵng.

Qua thời gian thực hiện, dự án đã tạo được giống mới, chất lượng cao, thích nghi với điều kiện nuôi tại Thành phố và sinh trưởng, phát triển tốt. Từ đàn dê ban đầu 160 con, qua quá trình nuôi dưỡng, đến nay đã lên khoảng 300 con. Mô hình nuôi thỏ đã cung cấp 1.000 con giống cho 20 hộ, mỗi hộ 50 con để phát triển kinh tế.

Ông Sơn cho hay  “Với một gia đình làm nông, chỉ quanh quẩn với việc trồng lúa và nuôi gà, nuôi heo, thu nhập ít ỏi… thì mô hình kinh tế mới chăn nuôi dê, thỏ chất lượng cao thực sự là đòn bẩy phát triển kinh tế hộ gia đình, nâng cao thu nhập”.

Cùng với việc phát triển kinh tế nông hộ nhờ chăn nuôi, Đà Nẵng còn thử nghiệm và nhân rộng nhiều mô hình ứng dụng Khoa học công nghệ vào cuộc sống.

Chẳng hạn, trong khuôn khổ Chương trình Chuyển giao công nghệ phát triển nông thôn miền núi, Trung tâm Tiết kiệm năng lượng và Tư vấn chuyển giao công nghệ (Sở KH&CN TP. Đà Nẵng) đã triển khai mô hình ứng dụng năng lượng mặt trời tại 24 đơn vị trong huyện Hòa Vang, như Bệnh viện đa khoa huyện, 11 trạm y tế các xã, 11 trường mầm non, Trung tâm Bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh Hòa Nhơn.

Tại Trạm y tế xã Hòa Nhơn (mỗi tháng tiếp nhận khám, chữa bệnh cho khoảng trên 200 người và có khoảng 20-30 ca sinh), chị Trần Thị Điển, Trạm trưởng Trạm y tế cho biết, với bình nước nóng 200 lít, nhiệt độ nước nóng trong những ngày nắng đạt khoảng 60-80 độ C, đã giúp cho công việc của Trạm thuận lợi hơn, nhất là trong việc tắm rửa cho trẻ sơ sinh, sát trùng dụng cụ, hỗ trợ việc tắm rửa của bệnh nhân đang điều trị.

Đà Nẵng có thời gian nắng gần như quanh năm, do vậy, việc thành công của mô hình ứng dụng năng lượng mặt trời tại huyện Hòa Vang sẽ thúc đẩy nhiều tổ chức, cá nhân sử dụng năng lượng mặt trời vào phục vụ cuộc sống và sản xuất, cắt giảm chi phí năng lượng, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường bền vững.

Đây cũng là một trong những việc làm minh chứng cho việc gắn kết các hoạt động Khoa học công nghệ với nhu cầu thực tế, phát triển cộng đồng và từng bước chuyển biến nhận thức và đời sống vật chất của người dân.

Lan tỏa mạnh mẽ trong khu vực nông thôn miền núi

Chương trình nông thôn miền núi có tính chất liên ngành, liên vùng, được Bộ KH&CN phối hợp với các địa phương thực hiện thông qua các dự án ứng dụng và chuyển giao công nghệ, đào tạo, tập huấn nghiệp vụ và hoạt động thông tin, tuyên truyền nhằm thúc đẩy ứng dụng tiến bộ KHCN phục vụ phát triển kinh tế-xã hội nông thôn miền núi.

Ông Lê Quang Nam, Giám đốc Sở KH&CN cho biết, đối với TP. Đà Nẵng, Bộ KH&CN đã hỗ trợ thực hiện 13 dự án, trong đó có 7 dự án thuộc nhóm Trung ương quản lý và 6 dự án thuộc nhóm ủy quyền cho địa phương quản lý. Hiện, 8 dự án đã nghiệm thu và 5 dự án đang triển khai thực hiện. Hầu hết, các dự án đều hiệu quả và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong khu vực NTMN tại TP. Đà Nẵng.

Có thể nói, thành công bước đầu của các dự án nông thôn miền núi đã tạo cơ sở hình thành và góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ sinh học cho Thành phố.

Bắt đầu từ dự án xây dựng phòng nuôi cấy mô tế bào phục vụ nhân nhanh một số giống cây đặc thù trên địa bàn Đà Nẵng với sự hỗ trợ kinh phí từ Trung ương, Thành phố đã xây dựng phòng nuôi cấy mô tế bào trực thuộc Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN, từ đó làm tiền đề để xây dựng Trung tâm Công nghệ sinh học TP. Đà Nẵng hiện nay.

Tiếp đến là những dự án, mô hình ứng dụng một số giải pháp an toàn dịch bệnh kết hợp với sử dụng dung dịch điện hoạt hóa anolit để tăng cường vệ sinh thú y; dự án xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ sinh học sản xuất thức ăn bổ sung cho tôm, cá và chế phẩm vi sinh xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản; dự án xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ điện hoạt hóa để làm vệ sinh, khử trùng và khử mùi nhà xưởng, dụng cụ và sản phẩm thịt...

>>>Xem thêm:bán vi sinh xử lý nước thải

Các dự án này đã hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh phục vụ nông nghiệp, nông thôn và người dân trên địa bàn Thành phố sản xuất các dung dịch khử trùng phục vụ phòng bệnh cho gia súc, gia cầm, các dung dịch vệ sinh nhà xưởng, qua đó cải thiện đáng kể vấn đề môi trường.

Các dự án xây dựng mô hình nuôi bò lai, trồng tre lấy măng tại xã miền núi Hòa Ninh, mô hình trồng thương phẩm các loài hoa có giá trị cao, phát triển chăn nuôi dê thâm canh, sản xuất hàng hóa nấm ăn và nấm dược liệu, nhân giống và sản xuất lan hồ điệp, mô hình chăn nuôi thỏ trắng New Zealand… đã góp phần chuyển đối cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với định hướng của Thành phố, phát triển nông nghiệp đô thị và tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thông qua các mô hình trồng trọt, chăn nuôi, các dự án từ chương trình NTMN đã đào tạo kỹ thuật trực tiếp cho các cán bộ thuộc cơ quan chủ trì dự án, nâng cao trình độ kỹ thuật cho cán bộ địa phương và người dân về sản xuất nông nghiệp.

Tại Đà Nẵng, qua 13 dự án NTMN đã đào tạo 119 cán bộ kỹ thuật nắm vững quy trình công nghệ và tập huấn cho 3.775 lượt nông dân của địa phương về các kỹ thật chăn nuôi, trồng trọt tiên tiến.

Ông Lê Quang Nam đánh giá, các dự án trong chương trình nông thôn miền núi đã chuyển giao ứng dụng công nghệ và tiến bộ kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Thành phố, qua đó nâng cao năng suất, chất lượng nông sản của các địa phương. Thông qua các dự án đã giúp nâng cao trình độ sản xuất của người nông dân, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư ở nông thôn.

Với hiệu quả thiết thực đối với các địa phương như vậy, Sở KH&CN TP. Đà Nẵng đã đề xuất lên Bộ KH&CN tiếp tục đề xuất Chính phủ phê duyệt tiếp giai đoạn 3 của chương trình và quan tâm hỗ trợ Thành phố triển khai các dự án trong khuôn khổ của chương trình.

Đồng thời tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho nguồn nhân lực của các tổ chức KHCN, đầu tư nâng cao năng lực cho các đơn vị Trung tâm Tiết kiệm năng lượng và Tư vấn chuyển giao công nghệ, Trung tâm Công nghệ sinh học, và tăng cường liên kết, phối hợp giữa Sở KH&CN với Ủy ban nhân dân các huyện trong công tác quản lý và triển khai hoạt động ứng dụng KHCN tại địa phương.

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2015

Bảo vệ môi trường nhờ vi sinh vật

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2015 - 0 Comments


Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn phối hợp cùng Viện Môi trường Nông nghiệp-Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam thực hiện dự án xây dựng mô hình xử lý chất thải từ quá trình chế biến tinh bột dong riềng làm thức ăn gia súc và phân bón hữu cơ tại xã Côn Minh, huyện Na Rì (Bắc Kạn) nhằm giảm ô nhiễm môi trường từ các cơ sở chế biến dong riềng.




>> xem thêm bán vi sinh xử lý nước thải


Mục tiêu của dự án là xây dựng các mô hình xử lý nguồn nước thải trong quá trình chế biến dong riềng đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường, mô hình sản xuất và sử dụng phân hữu cơ vi sinh từ chất thải của quá trình chế biến tinh bột dong riềng để làm phân bón cho cây trồng, mô hình chế biến và sử dụng bã dong riềng để làm thức ăn bổ sung cho chăn nuôi.


Sau hai năm thực hiện, dự án đã đạt được những kết quả rất tốt. Dự án đã điều tra hiện trạng sản xuất nông nghiệp cũng như sản xuất dong riềng tại thôn Bản Lài, xã Côn Minh, huyện Na Rì. Xây dựng được các chuyên đề, gồm tổng quan về các giải pháp sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý làm phân bón hữu cơ vi sinh và dùng làm thức ăn cho chăn nuôi, tổng quan về các giải pháp sử dụng công nghệ sinh hoá dùng để xử lý nước thải của các cơ sở sản xuất tinh bột dong riềng trong nước và trên thế giới, chuyên đề đánh giá kết quả xử lý bã thải từ quá trình sản xuất tinh bột dong riềng theo hướng thân thiện với môi trường.


Các các quy trình để các cơ sở sản xuất chế biến dong riềng áp dụng như: về chế biến bã dong riềng làm thức ăn bổ sung cho chăn nuôi; chế biến bã dong riềng thành phân bón hữu cơ vi sinh; xử lý nước thải từ các cơ sở sản xuất dong riềng quy mô nông hộ gia đình cũng đã được hoàn thiện.



Dự án đã xây dựng 3 mô hình gồm xử lý bã thải dong riềng làm thức ăn cho chăn nuôi, đã chế biến được 2 tấn thức ăn phục vụ chăn nuôi từ bã dong riềng bằng công nghệ chế phẩm vi sinh và công nghệ ủ chua; xử lý bã dong riềng làm phân bón vi sinh với số lượng 10 tấn phân đã bón thử nghiệm cây lúa nước vụ mùa năm 2012 và vụ xuân năm 2013; xử lý nước thải công suất 90 m3/ngày đảm bảo vệ sinh môi trường khi thải ra tự nhiên. Nhìn chung các mô hình phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh, giảm được chi phí đầu tư cho các cơ sở chế biến dong riềng.



Ông Nông Văn Chính, Chủ nhiệm Hợp tác xã Miến dong Côn Minh, huyện Na Rì, cho biết, trước đây, việc đảm bảo nước thải ra ruộng, ra suối của các hộ sản xuất miến dong còn khó khăn do chưa được hướng dẫn. Từ khi thực hiện dự án này rất thuận lợi, nước thải ra môi trường của các cơ sở khá trong, theo hướng dẫn là đảm bảo. Hợp tác xã đã xây dựng 3 bể lắng để lắng các chất cạn bã, độc hại, làm cho nước trong sau mới thải ra môi trường, còn bã thải làm phân bón rất tốt cho cây trồng.



Đi đôi với việc xây dựng các hệ thống, dự án tổ chức tập huấn, hướng dẫn, chuyển giao công nghệ cho 150 lượt người dân về tác hại của ô nhiễm môi trường, các bước chế biến bã dong riềng, kỹ thuật xử lý nước thải, xây dựng các bể lọc... tổ chức tập huấn, hướng dẫn, chuyển giao công nghệ cho 150 lượt người dân về tác hại của ô nhiễm môi trường, các bước chế biến bã dong riềng, kỹ thuật xử lý nước thải, xây dựng các bể lọc...cũng được chú trọng.Người dân sau khi được tập huấn đã nâng cao nhận thức, đồng thời ứng dụng các công nghệ vào sản xuất và chế biến góp phần tăng hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường.



Ông Lê Văn Thế, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn cho biết thời gian tới, đơn vị tiếp tục mở rộng dự án xây dựng hệ thống xử lý nước thải trong sản xuất và chế biến tinh bột dong riềng nhằm đảm bảo môi trường và giúp người dân tận dụng được bã củ dong thải ra để làm phân bón và thức ăn chăn nuôi. Đồng thời nhân rộng mô hình xử lý nước, chất thải ra các vùng khác trong tỉnh.



Dong riềng là cây dễ trồng, thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, tập quán canh tác của người dân vùng cao nên những năm gần đây tỉnh Bắc Kạn đã đẩy mạnh việc mở rộng diện tích và sản xuất, chế biến sản phẩm củ dong riềng.



Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh đã có hơn 100 doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ gia đình sản xuất, chế biến củ dong riềng tạo ra các sản phẩm hàng hóa nâng cao giá trị kinh tế. Tuy nhiên, các cơ sở sản xuất, chế biến củ dong riềng mới chỉ chú trọng vào năng suất, lợi nhuận về kinh tế mà chưa chú trọng công tác bảo vệ môi trường.

Trẻ nhỏ sức khỏe kém nên dùng men đúng chỉ định



Men tiêu hóa là vi sinh dạng bột thường dùng đối với trẻ có sức kém kém, hay đau ốm ăn ngon và nhiều hơn.



Trẻ nhỏ có sức đề kháng kém nên hay đau ốm. Khi bị bệnh, trẻ thường kém ăn nên được cha mẹ cho dùng men tiêu hóa để kích thích ăn ngon hơn. Tuy nhiên, việc lạm dụng men tiêu hóa để lại những hậu quả khôn lường cho sức khỏe của trẻ ngay từ thuở nằm nôi.

Các men hỗ trợ tiêu hóa bán trên thị trường hiện nay thường được gọi chung một từ là men tiêu hóa. Khi ra hiệu thuốc mua, mọi người thường nói với nhân viên quầy thuốc: Bán cho tôi gói men vi sinh, mà không cần biết loại men ấy dùng có đúng người, đúng bệnh không. Một trong những mối nguy hại cho sức khỏe tiềm ẩn đó chỉnh là các nhân viên khi nghe qua triệu chứng rồi kê toa như bác sĩ. Trong đó việc cho trẻ nhỏ lạm dụng men tiêu hóa là một lời cảnh báo.

Việc cho trẻ dùng bừa men tiêu hóa khiến tình trạng rối loạn tiêu hóa càng nặng hơn.

Các chế phẩm hỗ trợ tiêu hóa được gọi chung bằng một từ là: men tiêu hóa, thực chất được chia thành hai loại là men vi sinh và men tiêu hóa, có công dụng, đối tượng sử dụng khác nhau. Vì vậy trước khi cho trẻ uống, cần phân biệt rõ hai loại men này và khi nào con cần dùng để phát huy tối đa hiệu quả và tránh hậu quả đáng tiếc.


Để an toàn và hiệu quả khi dùng thuốc, mọi người cần có thói quen chỉ dùng thuốc khi có chỉ định của thầy thuốc, dù đó là thuốc chữa bệnh hay chế phẩm hỗ trợ tiêu hóa, thực phẩm chức năng... vì mọi hoạt chất không phải do cơ thể tiết ra đều có thể gây các phản ứng phụ.

Men vi sinh: Men vi sinh, còn gọi là probiotic (một số loại probiotic phổ biến: khuẩn Bifidobacterium, khuẩn Lactobacillus) - là chế phẩm vi sinh chứa các loại vi khuẩn có lợi, được đưa vào ruột để bù đắp, lập lại sự cân bằng vi khuẩn đường ruột. Men vi sinh được chỉ định với các trường hợp loạn khuẩn ruột, biểu hiện ở chứng đi ngoài phân sống, tiêu chảy, khó tiêu, trướng bụng, rối loạn tiêu hóa. Việc bổ sung men vi sinh nhằm nâng cao sức đề kháng cho đường ruột, nâng cao chức năng tiêu hóa.

Men tiêu hóa: Là các loại men (enzym) do chính các tuyến trong cơ thể tiết ra, có tác dụng để tiêu hóa và hấp thu thức ăn, ví dụ tuyến nước bọt bài tiết men ptyalin (còn gọi anpha-amylase) có tác dụng phân giải tinh bột đã nấu chín thành đường maltoza. Dạ dày bài tiết ra axit clohydric (HCl) và các men pepsin, lipase. Quan trọng nhất là các men được bài tiết từ tụy tạng. Dịch tụy chứa đầy đủ các men tiêu hóa chất bột, chất đạm, chất béo. Men tiêu hóa tinh bột của tụy cũng là anpha-amylase, có cấu trúc giống men ptyalin của nước bọt nhưng tác dụng mạnh hơn nhiều lần. Men tiêu hóa chất đạm của tụy bao gồm: trypsin, chymotrypsin, arboxypolypeptidase... Đó là những xúc tác sinh học cần thiết cho hầu hết các phản ứng chuyển hóa thức ăn xảy ra trong cơ thể. Men tiêu hóa chỉ được bác sĩ kê đơn khi xác định trẻ thiếu men tiêu hóa, hoặc muốn tăng cường thêm khả năng tiêu hóa thức ăn ở trẻ kém hấp thu, biếng ăn. Trẻ mới ốm dậy, thể lực yếu, hệ tiêu hóa chưa tiết men đầy đủ cũng là đối tượng nên dùng để giúp cơ thể hồi phục nhanh.

Việc nhầm lẫn giữa hai loại thuốc trên, hoặc có khi người sử dụng không biết mình đang cho con dùng loại gì, chỉ biết gọi chung là men tiêu hóa, sẽ khiến cho tình trạng tiêu hóa của trẻ không được cải thiện, thậm chí ngày càng tồi tệ hơn. Không ít trường hợp vì thấy con mệt mỏi, biếng ăn, nhiều người đã tự ý mua men tiêu hóa cho con uống. Con được dùng men trong một thời gian dài mà tình trạng biếng ăn không được cải thiện, tình trạng rối loạn tiêu hóa của trẻ nặng thêm. Đưa con đi khám tiêu hóa được bác sĩ giải thích mới té ngửa mình đã vô tình hại con. Bản thân cơ thể con người đều có thể sản xuất đủ men tiêu hóa để tiêu hóa thức ăn. Nếu cha mẹ cho con uống men tiêu hóa dài ngày sẽ khiến cơ thể lười biếng không sản sinh ra men tiêu hóa, lâu dần sẽ giảm công suất và trở nên trì trệ. Trẻ có nguy cơ cơ thể bé sẽ phải phụ thuộc suốt đời vào men tiêu hóa được uống vào. Chỉ nên cho bé dùng men tiêu hóa 7-10 ngày, nếu dùng kéo dài sẽ gây tác dụng ngược do lượng men tiêu hóa được cung cấp nhiều từ bên ngoài sẽ ức chế các tuyến tiết men tiêu hóa nội sinh trong cơ thể. Bên cạnh đó, nếu dùng thuốc này như một thói quen, cơ thể thừa men thì tụy sẽ tự động ngừng tiết men tiêu hóa, dẫn đến suy tụy, thiểu năng tuyến tụy, cơ thể không được bảo vệ sẽ dễ nhiễm khuẩn. Điều này giải thích tại sao có người cho con dùng men tiêu hóa trong cả tháng trời mà con ngày càng suy nhược và yếu ớt hơn. Chỉ cho trẻ sử dụng men tiêu hóa khi các tuyến tiêu hóa bị tổn thương hay khi bị giảm bài tiết gây thiếu men tiêu hóa trong cơ thể như trong một số trường hợp: suy dinh dưỡng nặng, u xơ nang tuyến tụy, trẻ mới ốm dậy hoặc mới trải qua phẫu thuật... Đặc biệt cần hạn chế tối đa cho trẻ dưới 6 tháng tuổi uống men tiêu hóa vì ở độ tuổi này hệ tiêu hóa của trẻ chưa ổn định, dễ gây ảnh hưởng đến đường tiêu hóa của trẻ về sau.

Designed by Giang Truong