Liên Kết
hóa chất xử lý nước thải sinh hoạt
lap bao cao danh gia tac dong moi truong
lập báo cáo giám sát môi trường
lập báo cáo giám sát môi trường định kỳ
mẫu báo cáo giám sát môi trường định kỳ
phương pháp đánh giá tác động môi trường
thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt
hệ thống xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học
hệ thống xử lý nước thải giấy
hệ thống xử lý nước thải mía đường
hệ thống xử lý nước thải nhà hàng khách sạn
hệ thống xử lý nước thải nhà máy bia
hệ thống xử lý nước thải nhà máy giấy
đánh giá tác động môi trường đtm
Kế hoạch bảo vệ môi trường
báo cáo đánh giá tác động môi trường
Xử lý chất thải chăn nuôi
Xử lý nước thải chăn nuôi heo
Đối tác
Thứ Ba, 9 tháng 8, 2016
![]() |
| Công ty Soda Chu Lai xả thải gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng |
Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2015
Hàng ngày vẫn có hàng trăm con tàu vận tải thủy nội địa hay xà lan không lắp đặt thiết bị phân ly dầu – nước (hiện không có chế tài bắt buộc lắp đặt) hoạt động ngày đêm trên vùng nước của Di sản thiên nhiên thế giới này, do vậy môi trường nước của Vịnh Hạ Long vẫn có nguy cơ bị ô nhiễm từ nguồn nước thải nhiễm dầu của các phương tiện trên.
Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh quyết định sẽ đình chỉ hoạt động hoặc không cấp phép rời bến đối với tàu du lịch trên Vịnh Hạ Long nếu không lắp đặt thiết bị phân ly dầu – nước sau ngày 1/11 nhằm thúc đẩy các chủ tàu du lịch hoạt động trên Vịnh Hạ Long chủ động lắp đặt thiết bị phân ly dầu nước trên các phương tiện của mình . Vì vậy, chỉ trong thời gian ngắn, hơn 400 tàu du lịch đã được lắp đặt hệ thống phân ly dầu - nước nhằm bảo vệ môi trường nước Vịnh Hạ Long.
Thế nhưng, hàng trăm các phương tiện thủy khác như sà lan, tàu vận tải loại nhỏ đang ngày đêm hoạt động trên Vịnh Hạ Long, nhất là hàng chục chiếc xà lan đang vận chuyển chở cát, đất đá cũng như nguyên, vật liệu xây dựng phục vụ các công trường thi công các dự án trọng điểm bên bờ Vịnh lắp đặt thiết bị này.
Mỗi tháng có khoảng 54 ngàn lượt phương tiện vận tải thủy hoạt động trên vùng nước Vịnh Hạ Long. Với số lượng và mật độ tàu hoạt động cả ngày lẫn đêm lớn như vậy nên lượng nước thải nhiễm dầu (nước thải la canh) xả ra môi trường là không nhỏ. Đặc biệt, các phương tiện như xà lan vận tải nguyên vật liệu, đất đá phục vụ cho việc san lấp Vịnh Hạ Long hoạt động với tần suất lớn trong ngày trong thời gian gần đây đang là nguy cơ đe dọa trực tiếp đến môi trường nước Vịnh Hạ Long, làm ảnh hưởng trực tiếp đến mỹ quan, hoạt động du lịch biển, gây phản cảm cho du khách. Thực tế này đã gây bất bình trong dư luận, đặc biệt là trong cộng đồng những chủ tàu du lịch vừa lắp đặt hệ thống phân ly dầu - nước. Theo họ, phương tiện vận tải hoạt động trên Vịnh Hạ Long đều như nhau cả, sao chính quyền địa phương chỉ bắt buộc đối với tàu du lịch mà lại không hề có quy định nào cho các phương tiện vận tải thủy khác như xà lan, tàu vận tải, tàu đánh bắt cá… Họ cho rằng, nước xả thải của các phương tiện kể trên còn có nguy cơ gây ô nhiễm tới Vịnh Hạ Long nhiều hơn so với các tàu du lịch, nhất là tàu du lịch hạng sang.
Giám đốc Sở Giao thông Vận tải Quảng Ninh - ông Vũ Văn Khánh cho biết: Do số phương tiện thủy tham gia giao thông trên Vịnh Hạ Long khá đa dạng, nhiều phương tiện không thuộc diện quản lý của Quảng Ninh mà của các địa phương khác nên rất khó trong công tác quản lý, chưa thể áp dụng quy định bắt buộc lắp đặt hệ thống phân ly dầu – nước (đối với tàu có công suất dưới 220Kw).
Bất cập trên đã được chính quyền và các ngành chức năng của Quảng Ninh nhìn nhận. Dư luận đánh giá cao việc Quảng Ninh yêu cầu các các phương tiện vận tải du lịch lắp đặt thiết bị phân ly dầu - nước để bảo vệ môi trường nước, song người dân cũng mong các ngành chức năng sớm tìm ra giải pháp quản lý tốt hơn việc xả thải nước thải của các phương tiện thủy đang hoạt động trên Vịnh Hạ Long, bảo vệ tốt hơn chất lượng nước của Di sản thiên nhiên thế giới.
Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015
Dùng hệ thống đất ngập nước kiến tạo bằng cây rau nghễ để xử lý nước thải sinh hoạt.
Trong rất nhiều thực vật thủy sinh thì rau nghễ là một trong những loại cây hoang dại hiện diện rộng khắp trong tự nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long. Đây là loại cây dễ phát triển và có nhiều lợi ích trong cuộc sống như làm thức ăn cho gia súc, làm thuốc, chất đốt... Tuy nhiên, hiện nay, tính hiệu quả trong xử lý nước thải sinh hoạt vẫn chưa được nghiên cứu. Vì vậy, đề tài của tác giả Bùi Trung Kha, Trường đại học Đồng Tháp đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này, góp phần vào việc hạn chế ô nhiễm và bảo vệ môi trường nước.
Thí nghiệm được bố trí tại ký túc xá sinh viên Trường đại học Đồng Tháp. Hệ thống đất ngập nước kiến tạo có dòng chảy ngầm trồng nghễ được xây dựng tại đây. Hệ thống được vận hành với mức tải nạp thủy lực là 60 lít/m2/ngày. Khả năng xử lý độ đục, DO (oxy hòa tan), nhu cầu oxy sinh học (BOD5), lân tổng (TP), đạm tổng (TN) rất hiệu quả, hiệu suất xử lý trung bình tương ứng 94%, 86%, 80%, 88% và 94%. Kết quả cho thấy, sử dụng hệ thống đất ngập nước nhân tạo này trong việc xử lý nước thải sinh hoạt là phương pháp khả thi, chất lượng nước thải đầu ra của hệ thống ở mức HLR 60 lít/m2/ngày là rất cao.
JICA sẽ hỗ trợ xử lý nước thải sinh hoạt

(Đồng Nai)- Ngày 4-6-2015, ông Mutsuya Mori, Trưởng đại diện cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam đã đến Đồng Nai để thảo luận các vấn đề về quản lý môi trường nước tại lưu vực sông Đồng Nai.
Theo đó, JICA dự kiến sẽ hỗ trợ Đồng Nai và một số tỉnh thuộc lưu vực sông Đồng Nai triển khai dự án xử lý nước thải sinh hoạt để góp phần làm sạch và cải thiện môi trường nước; nghiên cứu dự báo ô nhiễm môi trường nước sông Đồng Nai trong tương lai. Dự án này đã được Chính phủ Việt Nam, Nhật Bản thống nhất và chỉ chờ ký kết sẽ chính thức triển khai. Chính phủ Nhật Bản sẽ hỗ trợ vốn vay ODA và dự kiến dự án sẽ triển khai trong 3 năm. Ngoài ra, JICA dự tính sẽ hỗ trợ tỉnh triển khai thực hành nông nghiệp tốt.
Tiếp và làm việc với đoàn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đinh Quốc Thái cho biết, hiện Đồng Nai đã quy hoạch tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh và để bảo vệ nguồn nước sông Đồng Nai, tỉnh đã quy hoạch hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt cho Thành phố. Biên Hòa và đang tiến hành bồi thường, giải phóng mặt bằng để triển khai. Tỉnh rất mong sớm vay vốn ODA để đẩy nhanh tiến độ dự án và dự án này cũng được tính toán kỹ để ít ảnh hưởng đến người dân nhất.
Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015
Tái sử dụng nước thải công nghiệp phục vụ phát triển bền vững
Đây là chủ đề của buổi hội thảo chuyên đề vừa được Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ, Sở KH-CN TP.HCM, tổ chức vào sáng nay 26/6.

Theo T.S Trần Minh Chí - nguyên Viện trưởng Viện Kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, các chương trình tuần hoàn và tái sử dụng nước trong sản xuất công nghiệp đã bắt đầu tại Mỹ vào những năm 1940 khi nước thải sau xử lý được khử trùng và tái sử dụng trong dây chuyền sản xuất thép và những nước Châu Âu cũng đã tiến hành áp dụng chương trình này nhằm bảo vệ và tiết kiệm nước cung cấp cho công nghiệp.
Tuy nhiên, tại khu vực châu Á, công nghệ tái sử dụng nước chỉ được thông qua vào giai đoạn cuối của thế kỷ 20.
T.S Chí cho biết, việc tuần hoàn và tái sử dụng nước thải giúp mang lại tính hiệu quả cao về kinh tế cũng như tạo ra những tác động tích cực cho môi trường. Về mặt kinh tế, việc tuần hoàn và tái sử dụng nước trong một công đoạn sản xuất có thể giúp tiết kiệm chi phí nhờ giảm lượng nước sử dụng, cũng như giảm chi phí đầu tư hệ thống cấp nước cho dây chuyền sản xuất. Bên cạnh đó, tuần hoàn và tái sử dụng nước thải sẽ giúm giảm lưu lượng nước thải tạo thành, từ đó tiết giảm được thể tích của các bể/bồn chứa nước thải cần xử lý. Hay nói cách khác, doanh nghiệp sẽ giảm được chi phí đầu tư hạ tầng hệ thống xử lý nước thải và các chi phí khác liên quan đến khâu xử lý nước thải.
Đối với môi trường, việc tuần hoàn và tái sử dụng nước thải trong sản xuất trước tiên giúp giảm thiểu ô nhiễm và giảm lưu lượng nước thải đối với các nguồn tiếp nhận nước mặt. Sau nữa, tái sử dụng nguồn nước thải và có biện pháp xử lý các nguồn nước thải này sẽ giúp tăng nguồn nước cấp cho nhu cầu sản xuất tại chỗ, đem lại lợi ích cho nông nghiệp cũng như một số ứng dụng trong đô thị như tưới cây xanh, chữa cháy.
Tuy nhiên, một lợi ích cực kỳ quan trọng song nhiều người hay bỏ sót khi nhắc đến lợi ích của việc tuần hoàn và tái sử dụng nguồn nước thải, đó chính là giúp cải thiện môi trường, cải thiện nguồn nước mặt và cả nguồn nước ngầm.
Theo thống kê của Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ, trong vòng 15 năm trở lại đây, lượng sáng chế đăn ký bảo hộ về xử lý và tái sử dụng nước thải công nghiệp tập trung nhiều nhất, với 1.617 sáng chế trên tổng số 1.663 sáng chế cùng lĩnh vực (với 258 sáng chế đăng ký bảo hộ trong năm 2014).
Cũng theo thống kê của Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ, hiện có 5 sáng chế đăng ký bảo hộ tại Việt Nam về xử lý và tái sử dụng nước thải công nghiệp.
Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2015
Liên tục xả thải chưa qua xử lý
Từ cuối năm 2013 khi Công ty trách nhiệm hữu hạn MCNEX VINA (Công ty MCNEX VINA) – với 100% vốn Hàn Quốc chuyên sản xuất mô-đun camera, linh kiện điện thoại bắt đầu đi vào hoạt động thì mỗi ngày ở đây có hàng trăm m3 nước thải chưa qua xử lý, được Công ty này thải trực tiếp ra môi trường xung quanh, khiến tình trạng ô nhiễm ở khu vực này ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Ông Vũ Văn Nghĩa, thôn Phúc Hạ, xã Ninh Phúc chia sẻ "Gần 2 năm nay, hàng trăm hộ dân chúng tôi phải sống trong tình trạng ô nhiễm từ việc xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường của Công ty MCNEX VINA. Đặc biệt là xung quanh khu vực này đều là ruộng canh tác của các hộ dân, nước thải tràn ra ruộng, mỗi khi đi làm đồng mùi hôi thối bốc lên nồng nặc, lội xuống là nước nổi bọt trắng xóa, gây ngứa tay, ngứa chân… chúng tôi đã kiến nghị lên chính quyền xã để có biện pháp xử lý, khắc phục tuy nhiên đến nay vẫn chưa xử lý được".
Theo quan sát của chúng tôi, nước thải được thải trực tiếp ra khu vực mương thủy lợi và tràn cả vào ruộng của các hộ dân nằm ngay tại miệng cống. Nước thải ra có màu đen, bốc mùi tanh và hôi thối nồng nặc.
Trước những bức xúc của người dân, đầu tháng 5/2015, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Công an tỉnh Ninh Bình đã bắt quả tang Công ty trách nhiệm hữu hạn MCNEX VINA có hành vi xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường. Quá trình điều tra cho thấy, công ty này đã xả nước thải có các thông số gây ô nhiễm môi trường như a-mô-ni, coliform… vượt quá quy chuẩn cho phép từ 8 đến 33 lần ra môi trường trong nhiều tháng. Ngay sau đó, lực lượng Cảnh sát môi trường đã lập biên bản vi phạm hành chính, đề nghị xử lý Công ty trách nhiệm hữu hạn MCNEX VINA theo quy định của pháp luật.
Có sự ưu ái?
Lê Khắc Khoa, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Bình cho biết, vào cuối tháng 4/2015, Sở đã có buổi làm việc với Công ty trách nhiệm hữu hạn MCNEX VINA về hệ thống xử lý nước thải. Tại buổi làm việc, Sở đã phát hiện ra hệ thống nước thải của Công ty được xây dựng chưa đảm bảo thiết kế, chất lượng kém. Cụ thể là khi sản xuất thì hệ thống nước thải chảy ra mà không được dẫn vào hệ thống xử lý, gây ô nhiễm. Sở đã lập biên bản và yêu cầu Công ty xử lý trong vòng 6 tháng.
Liên quan tới việc Cảnh sát môi trường tỉnh Ninh Bình bắt quả tang công ty này xả thải, ông Khoa cho biết, việc điều tra, bắt quả tang là việc chuyên môn của Phòng Cảnh sát môi trường, còn theo quan điểm của Sở thì tiếp tục đôn đốc công ty hoàn thiện hệ thống đúng theo Báo cáo đánh giá tác động mà công ty ký kết và theo biên bản đã ký trước đây.
Ông Khoa cũng cho biết thêm, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 7 khu công nghiệp đã triển khai đi vào hoạt động. Tuy nhiên, việc xây dựng các nhà máy thu gom và xử lý nước thải tập trung tại các khu công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn. Hiện nay, mới chỉ có 2 khu công nghiệp là Gián Khẩu và Khánh Phú là đã xây dựng xong nhà máy thu gom xử lý nước thải, nhưng hoạt động rất cầm chừng. Riêng Khu công Nghiệp Phúc Sơn mới chỉ có một đơn vị là Công ty MCNEX VINA là được cấp giấy chứng nhận đầu tư và cấp phép hoạt động. Do chưa có nhà máy thu gom xử lý nước thải tập trung, nên việc xử lý nước thải ở đây được thực hiện bằng hình thức xử lý thông qua hệ thống bể phốt của công ty.
Tuy chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng khi xả thải ra môi trường và được cấp phép xả thải thì nước thải phải được xử lý đạt một chất lượng nhất định chứ không thể thông qua hệ thống bể phốt như công ty MCNEX VINA đang thực hiện.
Vì sao doanh nghiệp này liên tục xả thải chưa qua xử lý nhưng cũng chỉ bị phạt, yêu cầu khắc phục (nhưng chưa thực hiện) và vẫn hoạt động bình thường? Câu hỏi này rất cần được cơ quan chức năng của Ninh Bình trả lời thỏa đáng để những người dân đang ngày đêm phải sống chung với ô nhiễm tại khu vực này không còn bức xúc.
Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015
Các công nghệ tiên tiến và giải pháp đồng bộ của tập đoàn General Eletric có khả năng giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường và thực hiện chiến lược phát triển xanh của đất trong bối cảnh Việt Nam đang đối mặt với các thách thức về ô nhiễm môi trường, xử lý nước thải.
Thực trạng vấn đề xử lý nước tại Việt Nam
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) được thực hiện trong năm 2013, trong suốt giai đoạn từ năm 1995 đến 2009, tổng mức đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải và thoát nước ở Việt Nam hàng năm là 150 triệu USD, khoảng 2,1 tỷ USD cho cả giai đoạn. Ước tính, con số này tương đương 0,45% GDP/năm của Việt Nam.
Song điều đáng nói là, cho dù hạ tầng hệ thống xử lý nước thải của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể trong những năm qua, nhưng thực tế vẫn cho thấy, khu vực đô thị vẫn phải đối mặt với những thách thức lớn cần phải giải quyết.
Cũng theo báo cáo của WB, hiện có 60% hộ gia đình Việt Nam đang thải nước sinh hoạt trực tiếp vào hệ thống thoát nước công cộng. Chỉ có 10% trong số này được qua giai đoạn xử lý. Trong số các hộ gia đình xả nước thải vào bể chứa thì chỉ 4% được xử lý.
Đánh giá một cách tổng thể, hệ thống quản lý nước thải nói chung ở hầu hết tỉnh, thành phố Việt Nam đều trong tình trạng xuống cấp. WB đã ước tính, hệ thống xử lý nước thải yếu kém có thể gây thiệt cho nền kinh tế Việt Nam tới 780 triệu USD mỗi năm, tương đương 1,3% GDP của cả nước.
Tính đến năm 2012, chỉ có 17 nhà máy xử lý nước thải đô thị đạt tiêu chuẩn được xây dựng tại Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng; 5 hệ thống khác được xây dựng ở một số tỉnh, thành phố với tổng công suất xử lý 530.000 m3/ngày. Ngoài ra, có khoảng 30 hệ thống khác đang trong quá trình thiết kế, hoặc triển khai xây dựng.
Như vậy, WB tính toán, đến năm 2025, Việt Nam cần 8,3 tỷ USD để phát triển hạ tầng hệ thống xử lý nước thải nhằm phục vụ nhu cầu của 36 triệu người dân thành thị. Với nhu cầu lớn như vậy, chắc chắn cơ hội đang mở ra cho các nhà đầu tư tư nhân trong lĩnh vực này.
Cũng phải nói thêm, không chỉ gặp thách thức về xử lý nước thải tại khu vực đô thị, xử lý nước thải công nghiệp hiện cũng nổi lên là một vấn đề nhức nhối đối với quá trình công nghiệp hóa của cả nước.
Việt Nam có 289 KCN và KCX tại 58 tỉnh thành phố tính đến cuối năm 2013. Mặc dù Chính phủ đã có quy định yêu cầu tất cả khu công nghiệp và khu chế xuất phải hoàn tất hệ thống xử lý nước thải trung tâm trong giai đoạn 2011-2015, nhưng đến nay, vẫn còn 92 khu chưa đáp ứng được quy định trên. Điều này có nghĩa là, nước thải từ các khu này vẫn đang được thải trực tiếp ra môi trường không qua xử lý.
Công nghệ mới góp phần giải quyết thách thức
Bằng cách tập trung vào những vấn đề như khả năng, chất lượng, năng suất, môi trường và năng lượng, GE mang đến những kinh nghiệm quý giá và công nghệ hiện đại để cung cấp những giải pháp sáng tạo trong quản lý và tối ưu hóa nguồn nước. Với danh mục phong phú về các thiết bị và công nghệ hóa chất, GE phục vụ trong tất cả các ngành công nghiệp, từ năng lượng cho đến hóa chất, thực phẩm và đồ uống.
Thứ nhất, trong lĩnh vực năng lượng. Lấy ví dụ về việc các công ty năng lượng đang đối mặt với những quy định nghiêm ngặt về xả nước thải và chất thải rắn, giảm thải khí CO2, loại bỏ chất lưu huỳnh và thủy ngân cũng như đảm bảo chất lượng không khí trong khu vực, GE có thể giúp các công ty này đáp ứng được những quy định đó trong khi vẫn giảm thiểu được chi phí và sản xuất được nhiều năng lượng hơn cho hệ thống lưới điện.
Công nghệ của GE là tập trung vào hệ thống làm mát nước nhằm tối đa hóa hiệu quả thu hồi nhiệt và bảo vệ thiết bị với các giải pháp tiên phong được thực hiện. Sự kết hợp giữa hóa chất được cấp bằng sáng chế, kinh nghiệm hàng chục năm, cùng giải pháp giám sát và phân tích trực tuyến TrueSense của GE phục vụ các hệ thống tuần hoàn mở, mạch kín và hệ thống sinh hơi nước liên tục.
TrueSense đo và áp dụng một lượng hóa chất hợp lý để kiểm soát sự bào mòn, lắng đọng và vi khuẩn. Khi được bổ sung với hóa chất đã được cấp bằng sáng chế của GE, TrueSense cung cấp các công cụ đo đạc và kiểm soát cần thiết để tối ưu hóa các hoạt động làm mát.
Đối với các hoạt động khử mặn nước biển cần phải thử nghiệm cẩn thận và thiết kế ngay trong giai đoạn đầu của dự án. Giải pháp Procera của GE bắt đầu với các thiết bị trước xử lý nhằm bảo vệ màng khử mặn thông qua việc loại bỏ những cặn bẩn rắn. Sau khi phân tích cẩn thận nguồn nước và nhu cầu bảo tồn, hệ thống mô - đun khử mặn sẽ được lắp vào ứng dụng. Với hơn 50 năm kinh nghiệm và 250 hệ thống lọc nước biển đã được lắp đặt, khách hàng có thể hoàn toàn tin tưởng vào khả năng thiết kế, sản xuất và cung cấp các giải pháp khử mặn chất lượng cao và phù hợp.
Đối với vấn đề xử lý nước thải, GE luôn có đầy đủ các danh mục sản phẩm và dịch vụ được thiết kế để giúp khách hàng đóng góp vào hệ thống cung cấp nước, nhằm giảm thiểu lượng nước thải bằng cách tăng cơ hội dùng lại. Một trong những công nghệ đó là Membrane Bioreactor (MBR). MBRs tạo ra khả năng xử lý nước hiệu quả thông qua việc loại bỏ chất ô nhiễm và vi sinh vật, nhằm đảm bảo nước có thể tái sử dụng.
Trong lĩnh vực chế biến hóa chất, đặc biệt là ethylene, stryrene, ammonia, các nhà máy hóa chất phải tuân thủ quy định an toàn và cần thời gian hoạt động dài hơn, ít gây ô nhiễm hơn. GE có các giải pháp xử lý để giúp thực hiện mục tiêu trên, bao gồm giải pháp GenGard cho chương trình kiểm soát hệ thống làm mát tuần hoàn.Giải pháp này có thể được áp dụng với toàn bộ danh mục hóa chất pH và đảm bảo kết quả tốt ngay cả trong điều kiện khó khăn nhất.
Một giải pháp khác là Thermoflo được thiết kế nhằm tối đa hóa sản lượng và tăng năng suất, cũng như cải thiện chất lượng sản phẩm và độ tin cậy của thiết bị. Giải pháp này cũng góp phần giảm chi phí làm sạch và thay thế thiết bị, cũng như giảm thiểu lượng năng lượng tiêu thụ và chi phí xả thải.
Trong lĩnh vực thực phẩm và đồ uống, do nhà máy đóng chai có nhu cầu khác so với các công ty sản xuất đồ uống và đồ ăn nhanh, GE đã xây dựng một danh mục xử lý nước, nhằm hướng tới giải quyết những thách thức cụ thể, như thời gian sản xuất, kiểm soát bọt và các quy định về vệ sinh.
Trong những thách thức đó, các thiết bị của GE, hóa chất và giải pháp dịch vụ có thể giúp khách hàng phục hồi tối đa lượng nước từ các hệ thống nước thành phần, và phục hồi các sản phẩm phụ giá trị (như đường, protein và tinh bột). Giải pháp của GE cũng bảo vệ, xử lý tháp nước làm lạnh và nồi hơi nước, xử lý nước xả thải hoặc tái sử dụng, đồng thời cải thiện thời gian sản xuất.
Với các màng lọc hiện đại của GE, bao gồm màng lọc nano, vi lọc, và siêu màng lọc, các công ty sản xuất sữa có thể chế biến pho mát sang những sản phẩm giá trị; các công ty chế biến tinh bột có thể lọc đường gluco ở nhiệt độ cao và áp xuất cao; các công ty sản xuất rượu có thể cải thiện màu và hương vị, trong khi có thể loại trừ được việc sử dụng và xả thải của chất điatomit.
Các hệ thống lọc BEV Series của GE được thiết kế chính cho việc sản xuất nước thành phần của các sản phẩm đồ uống có ga, nước hoa quả, nước đóng chai và đồ uống không ga. GE tự tin là nhà cung cấp hàng đầu giúp bảo vệ thương hiệu của công ty sản xuất, thông qua các hệ thống xử lý nước lớn nhất được lắp đặt cho nhiều nhà máy đồ uống trên thế giới.
Cho tới nay, GE đã cung cấp một danh mục đa dạng các thiết bị hiện đại và giải pháp quản lý, xử lý nguồn nước cho rất nhiều nước trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam. Bằng việc tập trung vào sự sáng tạo và tính thực tiễn, GE có thể phục vụ nhu cầu đặc trưng của mỗi khách hàng.
Thứ Ba, 21 tháng 4, 2015
Sau 3 năm nghiên cứu, một nhóm các nhà nghiên cứu từ Đại học Aarhus – Đan Mạch, Trường luật Vermont và công ty tập đoàn CNA ở Mỹ đã đưa ra kết luận tới năm 2040 sẽ không đủ nước để đáp ứng nhu cầu của dân số thế giới và sẽ có sự cạnh tranh giữa nhu cầu nước uống và nhu cầu năng lượng.
Ở hầu hết các quốc gia, điện là nguồn tiêu thụ nguồn nước nhiều nhất do các nhà máy điện cần nước trong quá trình làm mát để sản xuất điện. Các hệ thống năng lượng không đòi hỏi chu kỳ làm mát là các hệ thống gió và năng lượng mặt trời, và vì vậy, một trong những khuyến nghị trong nghiên cứu là thay thế hệ thống năng lượng bằng hệ thống điện gió và năng lượng mặt trời bền vững.
Nghiên cứu này cũng mang lại những kết quả đáng ngạc nhiên rằng, hầu hết các hệ thống năng lượng đều không ghi lại lượng nước để các hệ thống này hoạt động.
Tới năm 2020, các vấn đề về nước ảnh hưởng tới 30 – 40% dân số thế giới
“Đây là một vấn đề lớn mà ngành điện không thống kê được thực tế họ cần tiêu thụ bao nhiêu nước. Cùng với thực tế tài nguyên nước là hữu hạn, điều này có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nếu không được giải quyết sớm” – Giáo sư Benjamin Sovacool từ Đại học Aarhus cho biết.
Kết hợp với các kết quả nghiên cứu mới với các dự đoán về tình trạng thiếu nước và tình hình dân số gia tăng, có thể thấy tới năm 2020, nhiều khu vực trên thế giới sẽ không được tiếp cận với nguồn nước sạch. Thực tế, kết quả nghiên cứu dự báo tới năm 2020, khoảng 30 – 40% dân số thế giới sẽ bị rơi vào tình trạng tình trạng khan hiếm nước và theo các nhà nghiên cứu, biến đổi khí hậu có thể làm tình trạng này trầm trọng thêm.
Giáo sư Benjamin Sovacool cho biết thêm “Điều này có nghĩa rằng chúng ta sẽ phải quyết định nơi tiêu thụ nước của chúng ta trong tương lai. Liệu chúng ta muốn tiêu thụ nước cho ngành điện hay sinh hoạt? Vì chúng ta không đủ nước cho cả 2 ngành trên trong tương lai”.
Giải quyết vấn đề như thế nào?
Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã nhấn mạnh 6 kiến nghị chung của người ra quyết định phải làm theo để chấm dứt tình trạng và giải quyết khủng hoảng trên thế giới:
· Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng
· Nghiên cứu thay đổi hệ thống làm mát
· Thống kê sử dụng nước trong các nhà máy điện là bao nhiêu (?)
· Đầu tư vào năng lượng gió
· Đầu tư vào năng lượng mặt trời
· Bỏ các nhà máy nhiên liệu hóa thạch tại tất cả các khu vực khó khăn về nước
Nhóm các nhà nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu của họ tại 4 nước là Pháp, Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ. Thay vì xem xét tình hình ở cấp độ quốc gia, nhóm đã thu hẹp và tập trung vào các nhà máy cụ thể và các nguồn cung cấp năng lượng. Bước đầu tiên là xác định nhu cầu năng lượng hiện tại và sau đó dự báo cho tương lai xa tới năm 2040. Kết quả đạt được đang ngạc nhiên. Tất cả 4 dự án đều cho thấy không thể tiếp tục sản xuất điện theo phương thức này và không thể đáp ứng các nhu cầu về nước vào năm 2040.
“Nếu chúng ta tiếp tục sản xuất như hiện nay, chúng ta sẽ phải đối mặt với sự thiếu hụt nước. Sẽ không có nước vào năm 2040 nếu chúng ta tiếp tục làm những gì như hiện nay. Không có thời gian để lãng phí. Chúng ta cần phải hành động ngay”. Đây là kết luận của giáo sư Benjamin Sovacool.
Thứ Năm, 16 tháng 4, 2015
Hơn 10 năm qua người dân sống ở các tổ dân phố 19,21,22 phường Him Lam, thành phố Điện Biên Phủ phải chịu đựng mương nước thải đen kịt, bốc mùi hôi thối chảy qua khu dân cư. Mặc dù đã kiến nghị nhiều lần đến các cơ quan môi trường liên quan nhưng đến nay người dân vẫn phải sống chung với "lũ" ô nhiễm mà chưa nhận được bất kỳ lời phản hồi, giải đáp nào hay sự hỗ trợ nào.
Hàng ngày, dòng nước đen ngòm chảy qua khu dân cư các tổ dân phố 19, 21 và 22, phường Him Lam. Những rãnh nước nhỏ này không hề được xây hay che chắn gì. Người dân ở các tổ dân phố trên cho biết, có khoảng 6-7 cống nước thải đổ về đây, những cống nước này chủ yếu được thải ra từ Nhà Thi đấu đa năng tỉnh Điện Biên, Khách sạn Mường Thanh và nước thải sinh hoạt của khu dân cư. Lượng nước thải sinh hoạt, sản xuất từ các cống này ứ đọng ngay tại khu dân cư, bốc mùi khó chịu.
Chứng kiến những rảnh nước thải này chúng tôi mới hiểu được rõ cảnh sống mà người dân phải chịu đựng trong suốt 10 năm này. Ông Trương Kim Oanh, tổ dân phố 22, phường Him Lam (thành phố Điện Biên Phủ) cho biết: Mùa mưa, nước tràn ngược lên phía trên, ngập đường đi, ngập sân và ngập thềm nhà. Mùa hè cũng như mùa đông, rãnh nước này đều bốc mùi rất khó chịu, nhiều người khi đi qua đây cứ phải bịt mũi. Cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng nhiều từ sự ô nhiễm này. Gia đình bà Đinh Thị Điện ở tổ dân phố 22 đã sống ở đây được hơn 20 năm cũng bức xúc cho biết: "Chúng tôi sống ở đây từ năm 1990, cuộc sống suốt ngày bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm từ cái mương này".
Được biết, từ năm 2003, khi Nhà Thi đấu đa năng tỉnh Điện Biên bắt đầu được thi công thì diện tích rãnh thoát nước chảy qua khu dân cư dần bị thu hẹp lại bởi việc đổ đất, san ủi mặt bằng trong quá trình xây dựng. Nước thải vì vậy dần bị ứ đọng, gây ô nhiễm, tình trạng này càng trở nên trầm trọng hơn từ 3-4 năm trở lại đây. Trông chờ sự khắc phục từ chính quyền không được, một số hộ dân đã tự bỏ tiền ra để xây hệ thống đường ống dẫn nước thải. Điều đáng nói là thực trạng này đã kéo dài hơn 10 năm nay, người dân đã nhiều lần kiến nghị nhưng vẫn chưa nhận được bất kỳ giải pháp hay sự hỗ trợ nào của đơn vị có thẩm quyền.
Ông Nguyễn Danh Chương, Tổ trưởng tổ dân phố 21, phường Him Lam, cho biết những năm gần đây, ông đã đề nghị lên cấp trên giải quyết nhưng không biết vì lý do gì mà việc khắc phục vẫn chưa được triển khai. Có thể do nguồn nước thải sinh hoạt và sản xuât này chảy ra ngoài sông nên chi phí lớn, cơ quan chức năng chưa triển khai được. Hiện nay, đường nước thải sinh hoạt của khách sạn Mường Thanh, khu tập thể xăng dầu, khu dân cư đều thải về phía 3 tổ dân cư này. Bởi vậy, đường rãnh nước thải này cần được khắc phục sớm, để tránh ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân trên địa bàn.
Về thực trạng ô nhiễm tại các tổ dân phố 19, 21 và 22, phường Him Lam (thành phố Điện Biên Phủ), theo ông Nguyễn Đức Đuyện, Phó Chủ tịch UBND thành phố Điện Biên Phủ, giải pháp cuối cùng là phải bố trí vốn để xây dựng đường ống dẫn nước thải. Tuy nhiên, nguồn kinh phí để thực hiện vấn đề này là quá lớn, thành phố rất khó có thể bố trí được. Hiện có hơn 70 hộ dân đang chịu ảnh hưởng trực tiếp từ đường nước thải này. Hàng ngày, hàng giờ có hàng trăm người dân, các cháu học sinh đi qua khu vực này phải chịu mùi hôi thối. Nếu tình trạng này không sớm được giải quyết, sức khỏe của người dân vẫn bị ảnh hưởng.
Thứ Tư, 15 tháng 4, 2015
Tại tổ 5 phường Đồng Mai, nhiều chiếc thùng phuy tái chế được sơn bóng loáng bày trước vài căn nhà. Xế bên, gần nghĩa trang liệt sĩ phường Đồng Mai, nhiều chiếc thùng phuy cũ được xếp đống trong sân một ngôi nhà khác. Ở gần đó, bãi chôn chất thải từ tái chế thùng phuy được lấp cát mà vẫn phảng mùi hăng hắc. “Trời mưa còn đỡ, trời nắng thì mùi khó chịu gấp nhiều lần”- một người dân địa phương cho biết.
Vì khu vực tái chế nằm sát sông Đáy nên chất thải từ việc tái chế thùng phuy bị xả thẳng xuống sống nhiêu năm nay. Các cơ sở tư nhân mua thùng phuy cũ chủ yếu chứa xăng dầu, hóa chất..., được ngâm vào bể hóa chất để làm sạch cặn bã bên trong, sau đó tái chế thành thùng phuy mới.
Theo phản ánh của người dân, những năm qua họ phải chịu đựng tình trạng những chất cặn bã như nhựa đường, dầu mỡ, hóa chất... thải vương vãi khắp nơi. Nhiều người dân mắc bệnh về da, hô hấp, viêm xoang... Những hộ dân sống gần bờ sông Đáy luôn phải đóng kín cửa để hạn chế ô nhiễm.
Dây dưa trong việc xử phạt
Hoạt động tái chế thùng phuy tại phường Đồng Mai có khoảng chục năm nay nhưng gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Từ năm 2009, UBND quận Hà Đông đã có công văn yêu cầu các cơ quan chức năng của quận phối hợp với chính quyền cơ sở xử lý nghiêm những hộ gây ô nhiễm môi trường từ tái chế thùng phuy. Tuy nhiên, năm 2010, hai cơ sở sản xuất của bà Nguyễn Thị Vân và ông Nguyễn Đắc Hiếu lại được UBND quận Hà Đông cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để chế biến thùng phuy, với công suất 10 tấn/năm/cơ sở.
Trong quá trình hoạt động, hộ bà Vân, ông Hiếu chưa có hồ sơ pháp lý về bảo vệ môi trường, không có hồ sơ xin phép xả nước thải vào nguồn nước cũng như hồ sơ đăng ký chủ nguồn thải chất nguy hại... Do đó, năm 2012, UBND quận Hà Đông ban hành quyết định xử phạt hành chính đối với hộ bà Vân và ông Hiếu do vi phạm về bảo vệ môi trường.
Năm 2013, Công an thành phố Hà Nội tiếp tục xử phạt hộ bà Vân, ông Hiếu cũng do vi phạm bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, sau hai lần bị phạt, hai hộ này vẫn tiếp tục hoạt động tái chế gây ô nhiễm.
Tháng 3/2015, các cơ quan có trách nhiệm của quận Hà Đông tiếp tục kiểm tra tình trạng sản xuất của hộ bà Vân, ông Hiếu. Đoàn kiểm tra xác định, hai hộ này vẫn không có hệ thống xử lý nước thải sản xuất, không có biện pháp xử lý tiếng ồn phát sinh trong quá trình gò, tán thùng phuy thành phẩm.
Trao đổi với Tiền Phong, ông Lê Quang Thoan, Chủ tịch UBND phường Đồng Mai cho biết: “Cơ sở sản xuất của bà Vân, ông Hiếu hiện đã dừng hoạt động”. Trước đó, ngày 6/4/2015, Chi cục Bảo vệ Môi trường Hà Nội phối hợp UBND quận Hà Đông và UBND phường Đồng Mai kiểm tra các hồ sơ pháp lý về bảo vệ môi trường tại hai cơ sở nêu trên với kết luận hai cơ sở này đều không thể đáp ứng yêu cầu về xử lý nước thải, chất thải.
Điều đáng nói là sau nhiều năm, nhiều đoàn kiểm tra kết luận về việc không đảm bảo các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường, các cơ quan có trách nhiệm trên vẫn nhận xét: Hai cơ sở này được phép hoạt động trở lại khi thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý về bảo vệ môi trường và tài nguyên nước. Phải chăng việc xử lý của cơ quan chức năng chỉ dừng ở mức “giơ cao đánh khẽ”?
Nguồn nước thải trong sản xuất, sinh hoạt, nguy hại gây ô nhiễm lớn tới môi trường. Việc sản xuất, rửa máy móc, tràn dầu gây ra một lượng nước thải nhiễm dầu lớn. Công tác xử lý môi trường nước thải luôn đươc áp dụng mới nhất. Trong những năm gần đây, công nghệ MBR đã được sử dụng rộng rãi để xử lý nước thải trong nhiều ngành công nghiệp.
Nước thải nhiễm dầu tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường
Nước thải nhiễm dầu phát sinh từ nhiều hoạt động khác nhau như khai thác, tinh chế dầu, công nghiệp hóa dầu, gia công kim loại, hoặc từ dịch vụ sửa, rửa các phương tiện cơ giới. Loại nước thải này có thành phần rất phức tạp. Chứa nồng độ lớn các chất khó phân hủy như dầu, mỡ, amin, phenol, hydro cacbon mạch vòng, benzene.... Loại nước thải này phải được xử lý nước thải trước khi thải vào môi trường, nếu không, các thành phần của chúng sẽ gây ô nhiễm nặng cho các nguồn tiếp nhận như nước biển, sông hồ và đất.
Các phương pháp thông dụng để xử lý nước thải nhiễm dầu như các phương pháp phân tách bằng trọng lực, tuyển nổi, đông keo tụ, hấp phụ... đều có hạn chế như hiệu suất thấp, chi phí vận hành cao và có thể gây ăn mòn. Ngoài ra, hầu hết các phương pháp thông thường này không tách được các hạt dầu phân tán ở dạng kích thước nhỏ cỡ micromet.
Quá trình bùn hoạt tính truyền thống (BHT) thường được sử dụng để phân hủy các hợp chất hữu cơ trong nước thải do phương pháp này rẻ tiền và đạt hiệu quả tương đối cao. Hiện nay, nước thải nhiễm dầu cũng đã được xử lý nước thải bằng quá trình BHT có kèm theo công đoạn tiền xử lý phân tách dầu. Tuy nhiên, nước thải nhiễm dầu thường có hàm lượng N và P thấp, nên quá trình BHT không thể vận hành hiệu quả, và vấn đề bùn nổi trong hệ thống cũng thường xảy ra. Nhìn chung, hiệu quả xử lý nước thải của công nghệ này còn thấp.
Tính ưu việt của công nghệ xử lý nước thải MBR
Trong những năm gần đây, công nghệ MBR đã thu hút được nhiều nghiên cứu và ứng dụng trong xử lý nước thải. Nhóm tác giả đến từ Viện Khoa học công nghệ và Môi trường - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trung tâm Công nghệ Vật liệu - Viện Ứng dụng công nghệ cho biết: Bản chất của công nghệ MBR chính là dạng cải tiến của công nghệ BHT, trong đó, quá trình bùn hoạt tính được thực hiện theo nguyên tắc thông thường và sinh khối được tách bằng màng lọc. Do hiệu quả xử lý nước thải các chất ô nhiễm cao và giữ lại hoàn toàn sinh khối trong bể nên công nghệ MBR sẽ có tiềm năng rất lớn để ứng dụng cho các mục đích xử lý nước thải công nghiệp, trong đó có nước thải nhiễm dầu.
Nhóm tác giả đưa ra nghiên cứu cụ thể việc xử lý nước thải của trạm tinh chế khí có phần dầu lớn và thường được tách không triệt để nếu dùng phương pháp trọng lực thông thường. Sau khi được xử lý nước thải bằng công nghệ MBR đã cho kết quả tốt, quá trình xử lý nước thải rất ổn định dù dòng vào có sự biến động lớn. Các điều kiện vận hành tối ưu xác định được từ nghiên cứu này với HRT 4h và tải trọng xử lý dầu đạt 1,8kg trên một mét khối.
Một nghiên cứu quan trọng khác sử dụng công nghệ MBR để xử lý nước thải nhiễm dầu từ nhà máy chế tạo động cơ ô tô. Sau quá trình xử lý, hiệu suất, hiệu suất xử lý COD, đầu, phenol thu được đều đạt trên 90%.
Hiện nay, hệ thống MBR được lắp đặt với 2 mô hình, mô hình thứ nhất là hệ thống MBR có màng lắp bên ngoài để xử lý sinh học. Hỗn hợp bùn - nước thải được bơm qua đơn nguyên màng lọc, một phần nước trong sẽ được đưa ra ngoài và một phần bùn sẽ tuần hoàn lại.
Mô hình thứ 2 là hệ thống MBR có màng lọc đặt nhúng chìm bên trong bể xử lý sinh học. Trong hệ thống này, hệ thống phân phối khí được lắp đặt bên dưới đơn nguyên màng nhằm thực hiện 2 nhiệm vụ cung cấp oxi cho quá trình xử lý sinh học và đảo trộn hỗn hợp nước thải giảm hiện tượng tắc màng. Vì vậy, hiện nay, hệ thống này lựa chọn áp dụng nhiều hơn để xử lý nước thải.
Ông Chu Xuân Quang, Trung tâm Công nghệ Vật liệu, Viện ứng dụng công nghệ cho biết: "Công nghệ MBR có nhiều ưu điểm hơn những công nghệ xử lý nước thải khác vì chất lượng nước sau khi xử lý nước thải rất tốt, có thể tái xử dụng. Diện tích mặt bằng của trạm xử lý nhỏ, lượng bùn thải thấp, và rất linh động trong quá trình nâng cấp, mở rộng hệ thống sẵn có.
Hiện nay, công nghệ MBR đã được ứng dụng để xử lý nhiều loại nước thải công nghiệp như chế biến thưc phẩm, giấy và bột, dệt nhuộm, thuộc da nước rỉ rác và nước thải dược phẩm.
Thứ Ba, 14 tháng 4, 2015
Thứ Hai, 13 tháng 4, 2015
Vì cảm thấy lo lắng cho cuộc sống của 400.000 người dân tại thị xã Thuận An tỉnh Bình Dương đã khởi công xây dựng nhà máy với hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt rạng sáng 6/3.
Công suất xử lý 17.000m3 nước thải/ ngày đêm với tổng số tiền đầu tư lên tới 2.300 , tính ra đây là nhà máy thứ 2 nằm trong chuỗi dự án cải thiện môi trường nước Nam Bình Dương.
Đến giai đoạn 2, nhà máy sẽ đạt công suất xử lý 54.000m3 nước thải/ngày đêm (dự án chia thành 3 giai đoạn) với tổng mức đầu tư theo kế hoạch lên đến 6.800 tỷ đồng. Nguồn vốn đầu tư gồm 85% vốn ODA của Nhật Bản và 15% vốn đối ứng do Công ty Cấp thoát nước và Môi trường Bình Dương (Biwase) làm chủ đầu tư.
Mục tiêu của giai đoạn 1 này sẽ tiến hành xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung và triển khai xây dựng hệ thống đường ống thu gom nước thải có chiều dài gần 200km với nhiệm vụ thu gom nước nước thải sinh hoạt cho hơn 400.000 người dân, tập trung nhất là các khu dân cư nằm trong vùng ô nhiễm khu vực Kênh Ba Bò.
Công trình còn đáp ứng thu gom nước thải cho Kênh Ba Bò và xử lý ô nhiễm nguồn nước các tuyến kênh trên địa bàn thị xã Thuận An…
Trước đó, tỉnh Bình Dương đã đưa Nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt đô thị đầu tiên đi vào vận hành tại địa bàn thành phố Thủ Dầu Một. Dự án này đạt công suất xử lý 17.650m3 nước thải/ngày đêm.
Sau khi đưa vào hoạt động hồi tháng 5/2013, đến nay đã nhà máy đã thu gom nước thải của hàng chục nghìn hộ dân với công suất đạt được hơn 6.000m3 nước thải/ngày đêm.
Theo đánh giá của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản JICA (đơn vị tài trợ vốn ODA), nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt đô thị tại thành phố Thủ Dầu Một đã thành công vượt kế hoạch dự kiến hơn 2 năm.
Đến nay, nhà máy đã đấu nối thu gom nước thải sinh hoạt cho hàng nghìn hộ gia đình, cải thiện rõ rệt môi trường sống cho người dân Thủ Dầu Một.
Theo ông Trần Thanh Liêm, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương, với lợi ích mà dự án mang lại, việc đầu tư dự án cải thiện môi trường nước Nam Bình Dương là rất cần thiết và đạt lợi ích lâu dài hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm.
Do đó, đòi hỏi công trình thực hiện cải thiện môi trường nước phải đầu tư nhanh chóng, mang lại cuộc sống ngày càng văn minh ở một đô thị hiện đại như Bình Dương




.jpg)